Sang tên khi mua xe máy cũ theo quy định mới nhất năm 2020

5. Cha vay trả góp, con có phải chịu trách nhiệm liên đới trả không ?

Thưa luật sư! Xin chào qúy công ty. mong rằng tình huống của em sẽ được mọi người giúp đỡ. em là sinh viên đại học năm 3.hiện em đang học ở thành phố.Đầu năm 2016, bố em có vay mượn tiền ngân hàng mua xe trả góp, em chỉ biết khi có người gọi điện thoại hỏi là em có phải là con cha không? để họ xác nhận vay vốn, em trả lời có.

Em đi học trên tp, việc mua xe và vay tiền xảy ra dưới quê và em cũng không ký tên bất kì hợp đồng nào! cha em muốn mua xe,nhưng không thông qua ý kiến của mọi người trong gia đình,cho số điện thoại của mẹ và em để người ta gọi xác nhận và thành lập hồ sơ vay như có người thân đảm bảo.số tiền vay ,thủ tục lúc đó thế nào em cũng không biết. cha em công việc không ổn định, hay nhậu, và bây giờ hiện không có việc làm.em chỉ biết được số tiền vay mượn là gần 25 triệu đồng khi nhân viên bên ngân hàng gọi điện thoại cho em. họ liên lạc cha em không được nên cứ gọi điện thoại vào số máy của em. em liên lạc cha lúc được lúc không do cha đi nhậu và khóa máy, gặp được thì em nhắc chuyện tiền. bây giờ bên ngân hàng gọi điện thoại em đòi tiền, do đã gần 6-7 tháng cha em không đóng lãi vay, số tiền lên đến gần 40 triệu đồng.nhưng theo thông tin người gọi điện thoại cho em cung cấp,do cuối năm, ngân hàng hỗ trợ nên chỉ cần đóng phần vốn khoảng 25 triệu đồng. nếu không thanh toán sẽ kiện ra tòa và công an và em sẽ bị mời để làm việc, và em cũng phải chịu trách nhiệm cho cha em.

Vậy, qúy công ty cho em hỏi: 1.em có cần phải trả số tiền đó không? 2.em có cần phải lên tòa án để giải quyết vấn đề đó không? 3.hồ sơ học tập của em có bị ảnh hưởng gì không? 4.nhân viên nói rằng cha em sẽ bị phạt từ 6 đến 7 năm tù là đúng hay sai?

Em rất mong sự giúp đỡ từ qúy công ty. em chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về việc mua trả góp xe có ghi thông tin người thân là bạn thì bạn có nghĩa vụ trả tiền và có bị ảnh hưởng đến hồ sơ học tập không?

Theo như nội dung thư mà bạn trình bày, trong trường hợp của bạn theo quy định của pháp luật dân sự là trường hợp mua trả chậm, trả dần. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như sau về việc mua trả chậm, trả dần:

Điều 453. Mua trả chậm, trả dần

1. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận tài sản mua. Bên bán được bảo lưu quyền sở hữu đối với tài sản bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng tài sản mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Với hình thức mua trả chậm, trả dần này, mặc dù bên mua chưa thanh toán hoặc thanh toán chưa hết tiền cho bên bán nhưng họ lại được nhận tài sản mua bán và có quyền đưa tài sản vào khai thác công dụng; còn bên bán đã giao vật cho bên mua nhưng họ vẫn còn quyền sở hữu đối với tài sản đã bán. Về phương diện pháp lý, đây là một dạng hợp đồng mua bán được giao kết với điều kiện bảo lưu, trì hoãn quyền sở hữu của bên bán đối với tài sản đã bán. Pháp luật công nhận quyền sở hữu của bên bán được bảo lưu cho đến khi bên mua thực hiện đúng và đủ nghĩa vụ thanh toán. Trong thì gian trả chậm, trả dần, nếu bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán (như không trả tiền, trả tiền không đầy đủ, trả không đúng hạn), bên bán có quyền đòi lại tài sản đã bán.

Như vậy, với hình thức mua trả chậm trả dần thì quyền và nghĩa vụ chỉ phát sinh giữa bên mua và bên bán, việc dùng tên và số điện thoại của bạn để xác nhận là người thân trong thủ tục mua trả góp chỉ là hình thức để xác nhận được thông tin về người này khi mua theo hình thức trả góp giúp người bán có thông tin để liên lạc với mgười mua trong những trường hợp cần thiết, việc khai và thông báo không đúng thông tin sẽ do bên mua trả góp hoàn toàn chịu trách nhiệm. Trong trường hợp này bạn chỉ cần cung cấp thông tin về cha bạn trong phạm vi bạn biết chứ không có liên quan gì đến nghĩa vụ phải trả tiền và cũng không bị ảnh hưởng đến hồ sơ học tập bạn nhé.

Thứ hai, về việc cha bạn có thể đi tù 6,7 tháng là đúng hay sai?

Trong trường hợp của cha bạn khi chưa trả tiền và không đóng lãi vay cho ngân hàng thì họ có thể kiện ra tòa. Do bạn chỉ cung cấp cho chúng tôi thông tin về việc cha bạn chưa trả nợ hình thức trả góp mà không trình bày cụ thể rằng cha bạn có trả lãi suất theo định kỳ hàng tháng hay không, và thời gian cha bạn trả lãi được bao nhiêu tháng, còn giữ lại được các biên lại trả lãi suất hay không để đưa vụ việc của cha bạn sang vụ án dân sự, cụ thể Hành vi vi phạm hợp đồng của bên vay.

Để đưa ra hành vi Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho cha bạn, thì bên ngân hàng phải chứng minh được cha bạn có đủ yếu tố cấu thành nên hành vi vi phạm này hay không như sau:

Căn cứ theo Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Bạn lưu ý thêm, để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi vi phạm phải đáp ứng đủ 4 yếu tố cấu thành tội phạm (Khách thể của tội phạm; Chủ thể của tội pham; Mặt khách quan của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm), cụ thể như sau:

Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.

Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối. Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt. Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt.

3.1. Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản:

– Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật,ví dụ sai mục đích vay) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội.

– Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình.

– Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

Như vậy, thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm 2 dấu hiệu là: (1) Người phạm tội đã có hành vi gian dối như bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc (nói dối, trái sự thật, nói không thành có, nói ít thành nhiều, tẩy xóa con số để được nhiều hơn) … ; (2) Chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật đó nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản cho người phạm tội. Thỏa mãn 2 yếu tố này mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

3.2. Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Mặt chủ quan của tội phạm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Như vậy, cha bạn phải cấu thành các yếu tố trên thì mới khép vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Nguồn: Luật Minh Khuê

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *