Quy định mới năm 2020 của bộ luật hình sự về các tội xâm phạm sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người khác

1. Quy định của luật hình sự về tội hiếp dâm

Trả lời:

Mọi công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân đều có thể bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Trong đó hành vi xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tình dục bị coi là tội phạm và bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tùy từng dấu hiệu cụ thể của tội phạm mà bị xử lý theo các tội phạm khác nhau.

Tội hiếp dâm quy định tại điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 cụ thể như sau:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Giao cấu không thành có thể bị xử lý về tội hiếp dâm từ 01/01/2018 theo Bộ luật Hình sự

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: 1900.6162

Về chủ thể của tội hiếp dâm: là bất kỳ người nào có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và năng lực trách nhiệm hình sự. Theo quy định của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì người thực hiện hành vi phạm tội có thể là nam giới hoặc nữ giới.

Về khách thể của tội hiếp dâm:

Tội phạm này xâm phạm trực tiếp tới sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người khác. Hành vi của tội phạm không chỉ được thể hiện bởi hành vi giao cấu mà còn ở các hành vi quan hệ tình dục khác. Theo quy định mới thì nam giới có thể trở thành nạn nhân của tội hiếp dâm trong các trường hợp thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân.

Về mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý. Người đó biết hành vi của mình là sai trái và trái ý muốn của nạn nhân nhưng vẫn thực hiện, để thỏa mãn ham muốn của bản thân.

Về mặt khách quan của tội phạm:

Người phạm tội có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân.

Trong đó, dùng vũ lực là các hành vi thực hiện để buộc nạn nhân phải cho người phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi tình dục khác như: giữ chân tay, bịt mồm, đánh đấm, trói… Những hành vi này chủ yếu làm tê liệt sự kháng cự của người bị hại để người phạm tội thực hiện việc giao cấu hoặc hành vi tình dục khác.

Đe doạ dùng vũ lực là hành vi dùng lời nói hoặc hành động uy hiếp tinh thần của người khác, làm cho người bị đe doạ sợ hãi như: doạ giết, doạ bắn,… làm cho người bị hại sợ hãi phải để cho người phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi tình dục khác trái với ý muốn của mình. Hành vi đe doạ dùng vũ lực quy định ở đây có thể hiểu là đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc.

Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân có thể được hiểu là tình trạng này có sẵn ở nạn nhân (nạn nhân bị bại liệt, bệnh tâm thần…) hoặc do người phạm tội tạo ra (người phạm tội cho nạn nhân uống thuốc mê, thuốc ngủ…), hoặc do các nguyên nhân khách quan khác (nạn nhân bị say, bất tỉnh, ốm đau bệnh tật mà sức khoẻ yếu…).

Thủ đoạn khác có thể hiểu là những thủ đoạn nhằm đưa người bị hại lâm vào tình trạng không còn khả năng làm chủ bản thân để thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân.

Về hình phạt:

a) Người phạm tội Hiếp dâm tùy mức độ, hành vi phạm tội mà có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật hình sự.

b) Trong trường hợp phạm một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm theo quy định tại khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự:

Có tổ chức;

Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

Nhiều người hiếp một người;

Phạm tội 02 lần trở lên;

Đối với 02 người trở lên;

Có tính chất loạn luân;

Làm nạn nhân có thai;

Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

Tái phạm nguy hiểm.

c) Trường hợp phạm tội thuộc các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

– Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

Làm nạn nhân chết hoặc tự sát

d) Pháp luật hình sự cũng phân rõ trường hợp phạm tội với người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

e) Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự

Nguồn: Luật Minh Khuê

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *