Phân tích cấu thành tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt khi chiếm đoạt tài sản

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Do bạn không nói rõ số tiền và điện thoại của vợ bạn bị mất qua quá trình xác minh với giá trị bao nhiêu nên chưa thể xác định được vụ việc này có bị khởi tố về tội theo Điều 173 Bộ Luật Hình sự 2015 tội “Trộm cắp tài sản” vì thế không thể xác định được vụ án thuộc khoản nào của Điều này, nên không thể xác định được thời hạn giải quyết vụ án có liên quan đến vợ bạn là bao nhiêu lâu, do vậy trả lời bạn một cách tổng quát như sau:

Để giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua các giai đoạn tố tụng sau đây:

1. Giai đoạn điều tra : Giai đoạn này do Cơ quan điều tra thụ lý điều tra, bao gồm các công việc như khởi tố vụ án; khởi tố bị can; bắt, tạm giam bị can (nếu có), hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng; lời khai bị hại; thu thập chứng cứ; xác minh lý lịch, tiền án, tiền sự của bị can v.v. Kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra có bản kết luận điều tra và chuyển toàn bộ hồ sơ sang Viện Kiểm sát cùng cấp đề nghị truy tố.

“Điều 172. Thời hạn điều tra

1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.
Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.

4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.

5. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:

a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

b) Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Cơ quan điều tra cấp quân khu thụ lý điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.

6. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.”

Điều 138 Bộ luật hình sự có 4 khung hình phạt tương ứng với bốn loại tội phạm là tội phạm ít nghiêm trọng; tội phạm nghiêm trọng; tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

– Nếu người lấy tài sản bị khởi tố theo khoản 1 Điều 138 (tội phạm ít nghiêm trọng, có hình phạt là cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm) thì thời hạn điều tra là hai tháng.

Khoản 1 Điều 138 là khung cấu thành cơ bản, người nào chiếm đoạt tài sản từ 2 triệu đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt v.v thì áp dụng khoản này.

Trong trường hợp vụ án có tính chất phức tạp thì được gia hạn thời hạn điều tra một lần không quá hai tháng.

Về thời hạn tạm giam: Thời hạn tạm giam cho tội phạm ít nghiêm trọng là hai tháng, nếu có tình tiết phức tạp, cần có thời gian dài hơn cho việc điều tra có thể được gia hạn tạm giam một lần, không quá một tháng.

Cần lưu ý là mọi trường hợp gia hạn thời hạn điều tra, gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát cùng cấp, trên cơ sở đề nghị của cơ quan điều tra.

– Nếu con của ông bị khởi tố theo khoản 2 Điều 138 (tội phạm nghiêm trọng, có khung hình phạt từ hai đến bảy năm) thì thời hạn điều tra là ba tháng.

Trường hợp vụ án có tính chất phức tạp cần gia hạn thì có thể gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng.

Khoản này quy định tài sản bị chiến đoạt từ năm mươi triệu đến dưới hai trăm triệu, hoặc tài sản từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu nhưng phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm, hành hung để tẩu thoát…

Về thời hạn tạm giam: Thời hạn tạm giam không quá ba tháng, nếu có tình tiết phức tạp, cần có thời gian dài hơn cho việc điều tra, có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng, lần thứ hai không quá một tháng.

– Nếu người lấy tài sản bị khởi tố theo khoản 3 Điều 138 (tội phạm rất nghiêm trọng, có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm), thì thời hạn điều tra là bốn tháng, có thể được gia hạn hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

Khoản này quy định tài sản chiếm đoạt có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng hoặc tài sản từ hai triệu đồng đến đưới năm mươi triệu đồng nhưng gây hậu quả rất nghiêm trọng.

Về thời hạn tạm giam: Thời hạn tạm giam không quá bốn tháng và có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng.

– Nếu người lấy tài sản bị khởi tố theo khoản 4 Điều 138 (tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có khung hình phạt từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân) thì thời hạn điều tra là bốn tháng.

Viện kiểm sát cấp tỉnh được quyền gia hạn lần thứ nhất và thứ hai, lần thứ ba do Viện kiểm sát nhân dân tối cao gia hạn…

Về thời hạn tạm giam: Thời hạn tạm giam là bốn tháng và được gia hạn ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng…

Khoản này quy định tài sản chiếm đoạt trên năm trăm triệu đồng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

– Về thẩm quyền điều tra: Cơ quan điều tra công an (cấp huyện) có thẩm quyền điều tra tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng; cơ quan điều tra công an cấp tỉnh có thẩm quyền điều tra tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

2. Giai đoạn truy tố: Giai đoạn này do Viện Kiểm sát thụ lý: Ban hành bản cáo trạng truy tố bị can và chuyển hồ sơ sang Tòa án.

Thời hạn truy tố: Thời hạn hai mươi ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện Kiểm sát có thể gia hạn nhưng không quá mười ngày đối với tội ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng và không quá mười lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Về thời hạn tạm giam: Thời hạn tạm giam để truy tố không vượt quá thời hạn truy tố.

3. Giai đoạn xét xử: Giai đoạn do Tòa án thụ lý:

Thời hạn chuẩn bị xét xử: Là ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể gia hạn thêm nhưng không quá mười lăm ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thời hạn tạm giam chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử.

Trên đây là khái quát về trình tự, thời hạn giải quyết một vụ án hình sự, trên thực tế có những trường hợp có thể kéo dài thời gian hơn so với thời gian đã quy định nêu trên do các cơ quan tố tụng trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc điều tra lại và trình tự thủ tục của điều tra bổ sung, điều tra lại theo luật định.

Tuy nhiên, nếu thấy quá thời hạn giải quyết mà cơ quan có thẩm quyền chưa giải quyết thì bạn có thể khiếu nại việc này lên chính cơ quan đang giải quyết vụ việc của bạn để được giải quyết, yêu cầu giải quyết vụ án của bạn.

Còn về vấn đề bạn có khả năng thắng kiện không thì còn phải phụ thuộc vào quá trình điều tra xác minh những chứng cứ có mặt tại hiện trường và đưa ra kết luận. Vì trường hợp của bạn thì bạn chưa nói rõ rằng vợ của bạn có chứng cứ rằng đã để quên tại phòng bệnh hay không hay có ai làm chứng không nên chúng tôi chưa thể khẳng định chắc chắn về khả năng thắng kiện trong trường hợp của bạn.

Nguồn: Luật Minh Khuê

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *