Có thể tự đóng bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ thai sản không?

3. Các khoản bảo hiểm nộp thừa được coi là quyền tài sản và mang đi góp vốn không?

Luật sư tư vấn:

Tại Điều 105 Luật dân sự 2015 về tài sản quy định:

“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”

Trong đó, Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.

Theo Điều 35 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định về tài sản góp vốn như sau :

“1. Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam.

2. Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn.”

Như vậy trong trường hợp của bạn, các khoản công nợ phải thu, công nợ phải trả; các khoản thuế nộp thừa; các khoản bảo hiểm nộp thừa được coi là quyền tài sản bên công ty có thể đem để góp vốn vào công ty khác. Tuy nhiên đối với loại tài sản này buộc phải có sự thỏa thuận và nhất trí của đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận là một phần tài sản góp vốn theo quy định của Điều 37 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về định giá tài sản góp vốn như sau:

” 1. Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam.

2. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.

Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.

3. Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận.

Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.

Trân trọng.

4. Ký bảo lãnh khi còn là sinh viên có hợp pháp?

Thưa luật sư, trường hợp em là thế này: Ba em vay ngân hàng 30 triệu được trả bằng lương hưu trí, và em đứng bảo lãnh khi em còn là sinh viên. Sau 4 tháng thì ba mất. Ngân hàng làm thủ tục lấy hết tiền tuất của ba. Rồi bắt em trả hết số tiền còn lại. Nhưng khi ký bảo lãnh thì em còn là sinh viên chưa đi làm, và giờ thì vẫn chưa có việc thì trường hợp của em có nghĩa vụ phải trả khoản vay đó của ba em không? Em xin cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ Điều 336 quy định về phạm vi bảo lãnh Bộ luật dân sự năm 2015:

“1. Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh.

2. Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại, lãi trên số tiền chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

4. Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại.”

Như vậy, nghĩa vụ bảo lãnh của bạn phải được thực hiện và ngân hàng có quyền yêu cầu khời kiện để thu hồi nợ vay. Theo Bộ luật dân sự năm 2015 thì bạn là phải có nghĩa vụ trả nợ thay cho ba bạn vì bạn là người bảo lãnh cho ba bạn, trong trường hợp, hiện nay bạn không có việc làm thì bạn chưa phải trả tiền ngay cho ngân hàng, nhưng khi nào bạn có thu nhập, có tài sản thì ngân hàng đều có quyền yêu cầu bạn trả nợ cho ngân hàng. Nếu bạn không tự nguyện trả nợ cho ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án thực hiện biện pháp cưỡng chế buộc bạn trả nợ cho ngân hàng theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.

5.Bệnh binh mất sức lao động khi qua đời người thân có được hưởng tuất không?

Thưa luật sư, bố tôi là bệnh binh mất sức lao động 61% đang hưởng lương bệnh binh bình thường.Tháng 10 năm 2017 bố tôi mất. Mẹ tôi năm nay 56 tuổi. Gia đình tôi làm hồ sơ để hưởng tiền tuất hàng tháng cho mẹ tôi từ tháng 11 năm 2017. Đến tháng 08 năm 2018 thì huyện trả lời là hồ sơ không đủ điều kiện để hưởng tiền tuất lý do: Trên bệnh án của bố tôi chỉ đề là mất sức 61% chứ không phải là “mất sức 61% vĩnh viễn”. Vậy tôi hỏi huyện trả lời vậy có đúng không? Thông tư mới nhất về điều kiện để hưởng tiền tuất mới nhất có quy định này không? Xin cảm ơn!

Trả lời:

Nghị định 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng quy định chế độ ưu đãi đối với thân nhân khi bệnh binh chết như sau:

“1. Khi bệnh binh chết, người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi.

2. Bệnh binh suy giảm khả năng lao động do bệnh tật từ 61% trở lên chết, thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng như sau:

a) Cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ tháng liền kề khi bệnh binh chết;

b) Con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng từ nhỏ, sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận;

c) Con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, không có thu nhập hàng tháng hoặc thu nhập hàng tháng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận;

d) Trường hợp khi bệnh binh chết mà cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng chưa đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng khi đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ;

đ) Trường hợp bệnh binh chết trước ngày 01 tháng 01 năm 2013 thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất như sau:

Đến ngày 01 tháng 01 năm 2013 mà cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng bệnh binh chưa đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng khi đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ; trường hợp đã đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, 55 tuổi trở lên đối với nữ thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

e) Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con từ đủ 18 tuổi trở lên sống cô đơn không nơi nương tựa hoặc con dưới 18 tuổi mồ côi cả cha mẹ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng bằng 0,8 lần mức chuẩn.”

Trong hồ sơ hưởng chế độ tuất của gia đình bạn bị trả về với lý do không phải là “mất sức 61% vĩnh viễn” là chưa hợp lý, gia đình bạn có quyền được gửi đơn yêu cầu giải thích pháp luật để không bị ảnh hưởng đến quyền lợi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật bảo hiểm xã hội – Công ty Luật Minh Khuê

Nguồn: Luật Minh Khuê

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *