Cách tính tiền bảo hiểm xã hội một lần theo quy định mới 2020 ?

>> Luật sư tư vấn luật lao động, bảo hiểm xã hội trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, bảo hiểm thất nghiệp:

Theo Điều 46 Luật số 38/2013/QH13 của Quốc hội: Luật việc làm quy định về hưởng trợ cấp thất nghiệp.

“1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày trung tâm dịch vụ việc làm tiếp nhận đủ hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; trường hợp không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thì phải trả lời bằng văn bản cho người lao động.

3. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp”.

Về vấn đề đăng ký bảo hiểm thất nghiệp với cơ quan bảo hiểm xã hội, thì pháp luật quy định trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập. Tuy nhiên, kể từ năm 2014 cho đến thời điểm hiện nay, bạn chưa đi làm cho công ty nào mà bạn vẫn chưa đăng ký là đã quá thời hạn do pháp luật quy định, do đó, bạn không được đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp nữa.

Về điều kiện hưởng tại Điều 49 Luật việc làm 2013, bao gồm các điều kiện sau:

– Tháng liền kề trước khi nghỉ việc đang đóng bảo hiểm thất nghiệp hoặc hưởng chế độ thai sản hoặc tạm hoãn hợp đồng lao động;

– Chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật;

– Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối vớihợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động không xác định thời hạn; hoặc Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định;

– Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp;

– Đã nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian 03 tháng kể từ ngày chấmdứt hợp đồng lao động.

Bên cạnh đó, theo Khoản 3 và Khoản 4 Điều 53 Luật việc làm 2013 quy định:

“3. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Tìm được việc làm;

c) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

d) Hưởng lương hưu hằng tháng;

đ) Sau 02 lần từ chối nhận việc làm do trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giới thiệu mà không có lý do chính đáng;

e) Không thực hiện thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định tại Điều 52 của Luật này trong 03 tháng liên tục;

g) Ra nước ngoài để định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

h) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

i) Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp;

k) Chết;

l) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

m) Bị tòa án tuyên bố mất tích;

n) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù.

4. Người lao động bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều này được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện quy định tại Điều 49 của Luật này.

Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp”.

Bạn không thuộc trường hợp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp vì bạn vẫn chưa nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp và cũng không thuộc các trường hợp quy định tại các điểm b, c, h, l, m và n khoản 3 Điều 53 Luật việc làm 2013. Chính vì vậy, thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp của bạn vẫn được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo khi đủ điều kiện.

Thứ hai, bảo hiểm xã hội một lần.

Theo Điều 8 Nghị định 115/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật bảo hiểm xã hội bắt buộc hướng dẫn Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 của Quốc hội Bảo hiểm xã hội một lần thì bạn đủ điều kiện nhận bảo hiểm xã hội một lần vì sau một năm kể từ thời điểm bạn nghỉ việc bạn không tham gia bảo hiểm xã hội.

Thứ ba, mối quan hệ giữa bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm xã hội.

Xét về cấu trúc hệ thống dù có những đặc thù, có khác biệt nhất định, nhưng Bảo hiểm thất nghiệp vẫn phải hoạt động theo cơ chế chung, trong khuôn khổ chung của hệ thống Bảo hiểm xã hội quốc gia.

Xét về hệ quả tài chính: Bảo hiểm thất nghiệp, thì một trong những điều kiện tiên quyết là phải có đóng góp bảo hiểm. Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp là một quỹ thành phần trong quỹ BHXH.

Hệ quả xã hội: mục đích cuối cùng và cơ bản của Bảo hiểm thất nghiệp và BHXH là đảm bảo cho người lao động và gia đình họ trước những “rủi ro xã hội”, có được cuộc sống an lành. Nếu như hệ thống BHTN thực hiện tốt chức năng bảo đảm thu nhập, thay thế cho người lao động khi họ bị mất khoản thu nhập từ lao động do bị thất nghiệp, thì nhà nước và cộng đồng giảm thiểu được những chi phí về tài chính và chi phí xã hội để khắc phục những hậu quả do thất nghiệp gây ra.

Ở một số quốc gia khác, trong đó có Việt nam, dù không tách riêng, nhưng quỹ Bảo hiểm thất nghiệp là một quỹ thành phần thuộc quỹ BHXH. Trong quá trình thực hiện có sự gắn kết giữa các cơ quan BHXH và cơ quan lao động. Các cơ quan lao động tổ chức đăng ký, theo dõi thất nghiệp và tổ chức dạy nghề, chuyển nghề cho người lao động; các cơ quan BHXH tổ chức chi trả trợ cấp BHXH. Điều này càng cho thấy tính phong phú, tính đa dạng và tính phức tạp của hệ thống BHXH trong nền kinh tế thị trường.

Nguồn: Luật Minh Khuê

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *